Đầu làng, cây đa đai
Cuối làng, miếu hiển thánh
Lan can bên sân đình
Cùng rạng cây soi bóng
Xuống dòng sông hiền hoà
Thủy mạc, chính làng ta.

QKh

27.4.06




10.12.05

.




"L'oiseau a son nid, chacun de nous a ses ancêtres
"

Chim có tổ, người có tông

20.11.05

.

Làng tôi nằm tựa ven sông,
Có đường gạch đỏ bên dòng nước xanh.
Lối vào ngõ xóm xinh xinh,
Bờ tre điệp khúc yên lành bấy nay.
Xa xưa đến tận giờ này,
Năm hai vụ lúa, ngơi tay hết nghề.
Nông nhàn quăng gánh rời quê,
Chợ tỉnh, chợ huyện đi về sớm khuya.
Bao đời tần tảo nắng mưa,
Chắt chiu xây dựng đình chuà khang trang.
Đậm đà tình nghĩa quê hương,
Xa quê những muốn tìm đường thăm quê.
Trải bao thế cuộc bộn bề,
Dân làng vẫn giữ miền quê yên bình,
Gặp nhau vui vẻ chân tình,
Lọ là tính đếm công mình công tôi.
Người nay ở bốn phương trời,
Xóm thôn vẫn chật, ruộng thời chẳng thêm,
Hỏi người toan tính sao êm,
Xanh tươi làng luá lại thêm làng nghề.

QKh

28.8.05

Khúc Thuy²

Quê cha đất tổ.

Ba làng Khê Tang-Khúc Thủy-Cự Đà gộp lại thành xã Cự Khê, Huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Tây. Làng Khúc Thủy nằm bên bờ phải dòng sông Nhuệ, cách thị xã Hà Đông 7 km về hướng Nam. Sông Nhuệ không rộng, nước chảy hiền hoà,thuyền bè qua lại dễ dàng, cặp bến chỗ nào cũng tiện. Làng xóm trải dài hai bên bờ sông cho gần nguồn nước sinh hoạt:
"thứ nhất cận thị, thứ nhì cận giang".

Ngày xưa chưa có cầu Tó, từ tỉnh lỵ ta phải men theo bờ phải xuôi dòng qua Đa Sỹ, Phú Diễn, Cự Đà mơí đến được Khúc Thủy. Ngày xưa Cự Đà - Khúc Thủy còn nổi tiếng về rặng si già nghiêng ra giòng nước, xoã tóc soi bóng xuống mặt giòng sông xanh trong, là những cầu nhảy cho bao nhiêu ông lão ngày hôm nay; lại còn những buổi chiều trăng trong nước mát, có si già làm thủy tọa cho bao đôi uyên ương nâu sồng dịu ngọt cho bao lớp người xưa .